Chuyện bắt đầu từ hôm tôi vác cái bơm tay kỳ cạch bơm cái lốp xe bị non hơi ở bãi gửi xe. Ông nhìn tôi bơm và bảo: “Để tớ bơm cho mà xem”. Miệng nói tay làm, ông ghì cái bơm vào lòng và dùng sức nặng toàn thân để bơm chứ không dùng tay. “Bơm thế này nó mới được bền sức. Chứ bơm như cậu thì chỉ cần một cái lốp xe con này là đứt hơi rồi… Thế này, ngày xưa tớ bơm một hơi bốn cái lốp Zil ba cầu (Zil 157 – xe của Liên Xô cũ) đấy. Mà ngày xưa chỉ có bơm mô nô thôi, làm gì có như bây giờ.”. Hình như thấy ánh mắt tò mò của tôi, ông hỏi: “Mà cậu có biết cái bơm mô nô không?!”. “Có ạ! Mà trước đây ông làm gì ạ?”, tôi hỏi. Mắt ông ánh lên một vẻ kỳ lạ, vừa có vẻ tự hào lại vừa có vẻ hoài niệm: “Lái xe Trường Sơn đấy”. “Ôi thế ạ?! Ngày nào con cũng được gặp Hùng xế Trường Sơn mà không biết. Để hôm nào con mang rượu ra hầu ông rồi nghe chuyện nhé!”. Và….

Ông Tắc (thứ 2 từ phải sang) cùng đồng đội tại cầu Rào Quán Đường 9 Khe Sanh.
Khoảng gần một tháng sau tôi mới có thời gian ngồi với ông tại trụ sở UBND một phường thuộc địa bàn Q.Thanh Xuân (Hà Nội), nơi ông đang làm bảo vệ, sau khi ông vừa hết ca trực. Hình như ông khoái cái từ "Hùng xế Trường Sơn" của tôi: “Bây giờ có lắm quái xế rồi thì xế điên… mà cậu lại gọi bọn tớ là "Hùng xế". Từ lạ đấy”. Tôi cười: “Thì các ông đúng là anh hùng mà. Huyền thoại Trường Sơn mà không có các ông thì…”. Sau hớp rượu đầu tiên ông kể:
"Phi công mặt đất"
Ông vào bộ đội năm 1968 khi vừa tròn 22 tuổi và từ năm 1969 tham gia lái xe Trường Sơn thuộc phiên chế Binh trạm 27 (Đoàn 559) vận chuyển hàng hóa chiến lược cho chiến trường Miền Nam. Binh trạm của ông đóng ngay Ngã ba Dân chủ (Hưng Hóa, Quảng Trị) khu vực sông Xê Băng Hiên (thượng nguồn sông Bến Hải). Đây cũng là điểm mở đầu của đường 16A và 16B – hai tuyến đường song song được dùng để vận chuyển vũ khí, đạn dược, nhu yếu phẩm vào Nam đánh Mỹ. Suốt gần 4 năm từ 1969~1973, những năm tháng ác liệt nhất của chiến tranh, ông trực tiếp lái xe trên hai tuyến đường này, trực tiếp đối mặt với lửa đạn dữ dội của Không quân Mỹ cùng những chiến dịch càn quét khốc liệt của Bộ binh ngụy mà điển hình là Chiến dịch Lam Sơn 719 và để rồi sau đó cùng đơn vị tiến thẳng vào Sài Gòn.
“Không bút nào tả xiết sự khốc liệt đó. Có những ngọn núi bị bom B52 đánh đến mức độ từ đá thành vôi rồi thành tro, rồi thành bùn lầy cao tới hàng mét. Đặc biệt từ cuối 69, khi địch phát hiện tuyến đường vận chuyển của ta, chúng dùng máy bay C130 được trang bị kỹ thuật hồng ngoại tuyến và vũ khí hạng nặng để săn xe ta cả ngày lẫn đêm. Với kỹ thuật này thì kể cả xe đã tắt máy mà còn nóng là bị phát hiện và chúng đã bắn thì trăm phát trăm trúng. Mà đạn thì toàn 40 ly trở lên. Khi phát hiện có xe tăng của ta nó còn bắn cả 80 ly. Mà lúc đầu mình có biết là nó dùng kỹ thuật đó đâu, nên mất nhiều xe lắm. Mãi sau mới phát hiện ra và tìm cách tránh. Đấy là còn chưa kể tới bom bi nổ chậm loại 6 cân một quả…”.
Ông dừng lại như để cho tôi chút thời gian cảm nhận được những gì ông miêu tả, rồi tiếp: “Ấy vậy mà các chuyến xe vào Nam chưa bao giờ dừng lại. Tranh thủ từng phút theo quy luật oanh tạc của địch, bọn tớ vẫn chạy. Như tớ đây, suốt gần 4 năm, đêm nào cũng làm một chuyến và lại trở về binh trạm”.
Hình như thấy ánh mắt ngạc nhiên của tôi, ông nói như trả lời câu hỏi không thành tiếng đó: “Cậu đừng nghĩ bọn tớ liều lĩnh kiểu điếc không sợ súng nhé! Vì theo tính toán, chỉ cần thoát được 1 xe là có thể ngang bằng với 2 trung đoàn dân công vận tải gùi vác trong 2 đến 3 đêm. Hiệu quả cao như thế nên chết cũng làm. Chả thế mà người ta gọi cánh lái xe Trường Sơn bọn tớ là phi công mặt đất. Nó đúng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Theo nghĩa đen là vì phi công thật được hưởng chế độ 2 đồng 7 hào rưỡi một ngày còn bọn tớ được đến 2 đồng rưỡi. Lúc đó có 4 hào một cân gạo, ăn chả hết được. Còn theo nghĩa bóng là nguy hiểm chả kém gì bay trên trời đánh nhau với máy bay hiện đại của Mỹ”.
Chuyện chỉ “xế Trường Sơn” mới có
Chiều chạng vạng rồi. Câu chuyện rơi vào khoảng lặng. Tôi nhẹ nhàng rót cho ông ly rượu nữa. Không nói không rằng như kiểu nhập đồng, ông cầm ly làm một hơi hết sạch rồi tiếp: “Bộ đội có nhiều binh chủng, mỗi binh chủng có một đặc thù, nhưng lính xế có nhiều thứ khác người lắm đấy”. Không cần đợi tôi hỏi, ông tiếp luôn: “Này nhé, hành trang của lính tương đối giống nhau, nào là súng ống, đạn dược, quân tư trang… Nhưng riêng bọn tớ thì không thể thiếu được …giẻ khô. Không có giẻ có khi mất mạng hoặc cháy xe. Thật đấy! Vì xe hay phải qua ngầm, qua suối, nước nó vào bộ chia điện mà không có giẻ lau khô thì không nổ được. Không nổ được vào đúng lúc máy bay địch oanh tạc thì có đúng là chết không?! Trừ lính xế, không ai lại yểm giẻ khô trong người thế cả!”.
Ông vừa nói vừa tủm tỉm cười rồi hỏi tôi: “Chắc cậu cũng thích trăng đúng không? (Tội nghiệp bọn trẻ con thành phố bây giờ, chả có mấy khi được ngắm trăng). Nhưng mà các cậu chắc cũng giống mấy ông văn nghệ sỹ thích trăng vì cảnh đẹp, còn với bọn tớ, trăng còn là thần cứu sinh hộ mệnh. Đêm nào mà sáng trăng, kể cả chỉ là trăng suông thôi thì sướng lắm. Vì chạy không cần đèn mà. Không đèn thì đỡ bị máy bay nó phát hiện. Bọn tớ yêu trăng đầy thiết thực, đúng không?! Điều này đã thành thơ rồi đấy”.

Ông Tắc (thứ 2 từ bên trái) cùng đồng đội và Tướng Đồng Sỹ Nguyên (giữa) tại buổi họp mặt Đoàn 559 lần I năm 1982.
Lại một tràng cười sảng khoái nữa và rồi hồi ức lại tuôn trào như suối. “Còn nữa, chắc cậu vẫn nhớ cái khẩu hiệu Yêu xe như con, quý xăng như máu chứ? Đối với bọn tớ, đấy không phải chỉ là khẩu hiệu mà là nguyên tắc, là yếu tố mang tính sống còn… Ngày xưa, bom đạn như thế, đường thì toàn đá hộc đá tảng to như cái bàn này mà suốt ba năm xe tớ vẫn xanh rì màu sơn. Tớ vẫn còn cái giấy chứng nhận 3 năm chạy xe an toàn không va quệt đấy. Tất nhiên, cũng một phần là do mình may mắn, bom đạn nó cứ như tránh mình ấy. Chả thể mà nhiều sếp khi đi thị sát chiến trường toàn thích đi với tớ.”.
Tranh thủ lúc ông dừng lại, tôi hỏi: “Ông ơi, đồng đội của ông nhiều người còn sống không?!”. Giọng ông trầm hẳn lại: “Người còn, người mất. À, mà nhân nói đến đồng đội, tình đồng đội của lái xe Trường Sơn cũng khác lắm. Thông thường là yêu thương, giúp đỡ nhau… Bọn tớ cũng vậy, nhưng giúp nhau theo kiểu khác. Ví dụ như khi đang chạy xe chở hàng vào trong, cho dù biết là xe đồng đội bị cháy, bị hỏng cũng không được dừng lại mà phải chạy tiếp, thoát được xe nào tốt xe ấy, dừng lại là chết chùm, thương nhau mấy cũng phải cắn răng mà chịu vì mục đích lớn hơn. Ai cũng hiểu điều ấy nên lại càng thương nhau hơn. Tớ cũng ở vào hoàn cảnh ấy mấy lần nên thấm lắm. Cái tình đồng đội ấy không chỉ giữa lính xế với nhau đâu, mà còn đối với lính công binh cùng tuyến nữa. Mà mấy ông công binh cùng tuyến với tớ cũng toàn anh hùng cả đấy. Cậu có tin là một ông giữ kho cũng dám mang súng cối ra thụt cho bọn ngụy Lam Sơn 719 chạy rẽ đất. Công binh mà hạ cả trực thăng của địch đấy. Hồi đánh Lam Sơn 719 giai đoạn đầu là toàn công binh cùng tuyến với tớ. Thế làm gì mà chúng nó không thua”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét